Trang chủ Giới thiệu Liên hệHỏi đápQuy định sử dụngHướng dẫn

Từ khóa được tìm nhiều nhất: Tình dục   Ung thư   HIV   H1N1   gan   Sinh dục   da     Âm đạo   Thủ dâm   Kinh nguyệt   mang thai   mắt   Tim   dương vật   Nam giới   Ho   Y học cổ truyền   Huyết áp   Phổi   Xương   Trẻ em   Buồng trứng   Tiêu chảy   tim mạch     Yếu sinh lý  

Tra cứu bệnh theo chữ cái: A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải bệnh viện

Trong thời gian qua, được sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, cùng với sự nỗ lực không ngừng của ngành y tế, hệ thống khám chữa bệnh nước ta ngày càng được củng cố, đầu tư và phát triển, với 13.500 cơ sở khám, chữa bệnh công lập, trên 1.000 bệnh viện công lập với gần 189.000 giường bệnh, hơn 100 bệnh viện tư nhân, hơn 35.000 phòng khám bệnh tư nhân.

Đặc biệt nhờ Quyết định 47/CP và 930/CP của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư cơ sở vật chất bằng trái phiếu Chính phủ cho y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh, 645 bệnh viện đa khoa (BVĐK) tuyến huyện, BVĐK khu vực liên huyện được đầu tư xây dựng; 78 BVĐK tỉnh và Trung ương; 55 bệnh viện lao, 40 bệnh viện/trung tâm tâm thần, 33 bệnh viện nhi/ sản nhi và 9 bệnh viện/trung tâm ung bướu của các BVĐK thuộc Bộ Y tế sẽ được đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp... Với hệ thống khám, chữa bệnh ngày càng được đầu tư, nâng cấp và hiện đại hoá, để sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư, Bộ Y tế cũng đã đề ra nhiều biện pháp để không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giảm quá tải bệnh viện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong tình hình mới.

Đề án 1816, giảm tải từ xa

Sau 2 năm triển khai Đề án 1816 của Bộ Y tế với 3 mục tiêu: nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện tuyến dưới, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa; chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ năng tay nghề, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ y tế tuyến dưới; giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, nhiều kỹ thuật cao đã được chuyển giao thành công cho y tế cơ sở, góp phần giảm tải từ xa cho các bệnh viện tuyến Trung ương.

6 tháng đầu năm 2010 đã có 65 bệnh viện cử cán bộ đi luân phiên tại 61 tỉnh/thành phố. Đồng thời có 1.078 lượt cán bộ được cử đi luân phiên từ các bệnh viện Trung ương, Sở Y tế Hà Nội, Sở Y tế TP. HCM, BV Việt Tiệp Hải Phòng... Nhiều kỹ thuật đã có thể thực hiện nhuần nhuyễn ở y tế tuyến dưới như phẫu thuật cấp cứu chấn thương sọ não, phẫu thuật nội soi bướu lành tiền liệt tuyến, phẫu thuật sỏi ống mật chủ, phẫu thuật nội soi hệ tiết niệu...

Việc cử cán bộ y tế luân phiên về bệnh viện tuyến dưới, được dư luận xã hội cả nước đánh giá cao qua đó khẳng định: Đây là một chủ trương đúng đắn của ngành y tế. Người bác sĩ nhận nhiệm vụ đi luân phiên về tuyến dưới đều ý thức, xác định nhiệm vụ của mình vì khi những kỹ thuật được chuyển giao tới y tế cơ sở sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, để người dân được hưởng sự chăm sóc y tế tốt nhất ngay tại địa phương mình. Và hơn hết cũng là hình thức giảm tải cho chính bệnh viện của bác sĩ đi luân phiên. Qua những thành công bước đầu của Đề án 1816, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án một cách đồng bộ: Từ TW về tỉnh; từ tỉnh xuống huyện, tuyến huyện cử bác sĩ về khám chữa bệnh cho bà con ngay tại xã.

Bệnh viện vệ tinh - giảm tải cho tuyến TW

Hiện nay, Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Bạch Mai là 2 đơn vị đang thực hiện mô hình bệnh viện vệ tinh (BVVT). Từ năm 2005 Dự án BVVT của Bệnh viện Việt Đức đã được triển khai với 6 bệnh viện là BVĐK Phú Thọ, Việt Tiệp - Hải Phòng, Bắc Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, khu vực Sơn Tây nhằm giảm 50% bệnh nhân cần điều trị phải chuyển đến Bệnh viện Việt Đức, giảm 80% trường hợp tử vong do xử lý ban đầu sai, giảm 80% ca tử vong do vận chuyển cấp cứu không đúng phương pháp... Cùng với những giải pháp thực hiện ngay tại bệnh viện như tăng thêm phòng khám, kê thêm giường bệnh, cải cách thủ tục hành chính... cho đến nay, Bệnh viện Việt Đức không còn hiện tượng nằm ghép, tình trạng quá tải được cải thiện đáng kể. Hệ thống 6 BVVT của Bệnh viện Việt Đức đã phát huy hiệu quả trong công tác khám, chữa bệnh, đặc biệt ở chuyên ngành ngoại khoa.

Ngày 30/7/2009, Bộ Y tế đã ra Quyết định số 2741/QĐ-BYT phê duyệt Đề án "Xây dựng một số BVVT của Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2009 - 2013". Theo đó, Bệnh viện Bạch Mai là cơ quan chủ đầu tư thực hiện đề án cùng 8 BVVT gồm: BVĐK Hà Đông; BVĐK tỉnh Bắc Ninh; BVĐK Phố Nối, tỉnh Hưng Yên; BVĐK tỉnh Tuyên Quang; BVĐK tỉnh Lào Cai II; BVĐK tỉnh Sơn La; BVĐK tỉnh Nam Định và BVĐK tỉnh Nghệ An. Các BVVT sẽ được Bệnh viện Bạch Mai hỗ trợ nâng cao năng lực chuyên môn, quản lý cho cán bộ y tế, mở rộng, phát triển các dịch vụ kỹ thuật, tăng cường chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến tỉnh một cách bền vững, rút ngắn khoảng cách chất lượng dịch vụ y tế giữa Trung ương với địa phương, đáp ứng và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người bệnh ngay tại cơ sở, góp phần giảm tải cho Bệnh viện Bạch Mai và các bệnh viện tuyến trên.

Sắp tới, Bộ Y tế sẽ nhân rộng mô hình BVVT với Bệnh viện Phụ sản TW và Bệnh viện Nhi TW.

Tăng cường đào tạo và chỉ đạo tuyến

Trong những năm qua, thông qua hoạt động chỉ đạo tuyến, bệnh viện tuyến trên giúp đỡ tuyến dưới về phòng bệnh, chữa bệnh, về tổ chức quản lý và chuyên môn kỹ thuật. Qua đó góp phần thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, giúp người bệnh được tiếp cận với kỹ thuật cao, giảm bớt chi phí và tạo điều kiện nâng cao uy tín cho tuyến dưới do chữa được nhiều bệnh với chất lượng kỹ thuật cao hơn. Bên cạnh đó công tác đào tạo, gồm đào tạo liên tục cho cán bộ y tế trong bệnh viện và đào tạo cho cán bộ y tế tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên khoa. Hoạt động đào tạo liên tục, tại chỗ, đào tạo nâng cao tại các bệnh viện sẽ giúp khắc phục tình trạng hiện tại về năng lực trình độ của cán bộ y tế các cấp.

Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân, việc đào tạo lại, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ chuyên môn, chuyển giao các kỹ thuật công nghệ cao ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết, đòi hỏi ngành y tế không ngừng phát triển, hoàn thiện các loại hình đào tạo, đặc biệt là đào tạo tại chỗ của các bệnh viện. Ngày 01/9/2009 Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 3172/QĐ-BYT về việc phê duyệt Đề án Kiện toàn, thành lập trung tâm/phòng đào tạo và chỉ đạo tuyến của bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế, với mong muốn việc kiện toàn, thành lập trung tâm/phòng đào tạo và chỉ đạo tuyến tại các bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện hạng I sẽ giúp từng bước khắc phục hạn chế nêu trên, giúp hoàn thiện nâng cao năng lực hệ thống đào tạo, chỉ đạo tuyến và luân phiên cán bộ của toàn bộ mạng lưới bệnh viện trong toàn quốc, góp phần thực hiện thành công Đề án 1816 là cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nâng cao chất lượng  khám, chữa bệnh. 

Cho đến nay đã có hơn 15 bệnh viện trực thuộc Trung ương đã thành lập và kiện toàn Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến. Những đơn vị này sẽ góp phần đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ y tế tuyến cơ sở.

Bên cạnh đó, hiện nay Bộ Y tế đã chỉ đạo giao cho các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành, đánh giá tổng thể thực trạng 5 chuyên ngành chính là Nội- Ngoại - Sản - Nhi - Hồi sức cấp cứu để có kế hoạch đào tạo và chỉ đạo tuyến đối với từng chuyên ngành, chuyên khoa.

Mô hình kết hợp viện - trường

Tháng 12/2009, Trường ĐH Y Dược TP.HCM đã tổ chức lễ ký kết hợp tác viện - trường với 4 Sở Y tế là TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Kiên Giang. Theo đó, từ tháng 3/2010 Trường ĐH Y Dược TP.Hồ Chí Minh đưa luân phiên các giảng viên của trường và học viên sau đại học xuống bệnh viện tỉnh để giảng dạy, kết hợp đào tạo và chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến dưới. Tại Đồng Nai có 3 cơ sở y tế được chọn để xây dựng mô hình viện - trường là BVĐK Đồng Nai (chuyên khoa ngoại); Bệnh viện nhi đồng Đồng Nai (chuyên khoa nhi) và BVĐK khu vực Thống Nhất (chuyên khoa nội). Nhiều loại ca mổ do cán bộ giảng viên thực hiện hoặc hỗ trợ Bệnh viện Đồng Nai thực hiện thành công như mổ nội soi thoát vị bẹn, cắt ruột thừa, cắt túi mật, khâu lỗ thủng tá tràng do loét; mổ mở như cắt dạ dày toàn bộ, sỏi ống mật chủ, nối mật - ruột, viêm phúc mạc do xì miệng nối ruột, mở đại tràng ra da, đặt mảnh ghép phục hồi thoát vị vết mổ lớn. Mổ nội soi hông lưng lấy sỏi niệu quản, dị tật khúc nối, mổ mở; sỏi san hô bể thận. Về ngoại thần kinh, đã mổ được thoát vị đĩa đệm, vi phẫu thuật. Ngoài ra còn mổ lồng ngực nội soi cắt TK giao cảm ngực, mổ mở vết thương thủng tim... Sự thành công này đã khẳng định công tác đào tạo bằng việc ký kết mô hình viện - trường sẽ vừa đáp ứng không chỉ về số lượng nguồn nhân lực đang thiếu hụt mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân.

Chuyển biến từ công tác khám chữa bệnh

Tất cả những giải pháp trên đều chung một mục tiêu là nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh của ngành y tế. Thời gian qua, các bệnh viện, các tuyến điều trị tiếp tục được nâng cao chất lượng các hoạt động, từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Việc ứng dụng kỹ thuật cao được các cơ sở không chỉ ở tuyến Trung ương mà cả tuyến tỉnh, tuyến huyện tích cực triển khai. Nhiều kỹ thuật cao ngang tầm với các nước phát triển như: ghép gan, ghép thận, can thiệp tim mạch, phẫu thuật tim hở, phẫu thuật nội soi... được triển khai tại các bệnh viện tuyến Trung ương và nhiều bệnh viện tuyến tỉnh. Tiêu biểu như Bệnh viện Bạch Mai cứu sống thành công sản phụ mắc bệnh hiểm nghèo: suy đa phủ tạng do nhiễm trùng, rối loạn đông máu, huyết áp không, nhịp tim giảm dần; Bệnh viện Việt Đức thực hiện được các kỹ thuật cao nhất của khu vực và thế giới: mổ cắt gan lớn, cắt khối tá tụy, hẹp động mạch vành, thay van tim, u não; Bệnh viện Nhi Trung ương tiến hành nhiều ca phẫu thuật tim hở, phức tạp trên trẻ sơ sinh; Bệnh viện TW Huế phẫu thuật thành công cho trẻ 4 tháng tuổi. Bệnh viện Bà Rịa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thực hiện thành công gần 20 ca vi phẫu nối liền các phần chi bàn tay, cánh tay, cẳng chân bị đứt lìa khỏi cơ thể; Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP. Hồ Chí Minh) tách thành công hai ca song sinh dính nhau...

Tuy nhiên, hệ thống khám, chữa bệnh còn nhiều điểm cần khắc phục nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân. Việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh là việc làm thường xuyên, liên tục không chỉ để đáp ứng nhu cầu đó mà còn đạt các mục tiêu: công bằng, chất lượng, hiệu quả và phát triển trong khám, chữa bệnh chăm sóc sức khỏe. Do đó các bệnh viện  cần tiếp tục thực hiện các giải pháp cải cách thủ tục hành chính, sắp xếp lại quy trình làm việc, quy trình khám chữa bệnh khoa học và hợp lý nhằm  thực hiện tốt "3 giảm": giảm ngày điều trị trung bình một cách hợp lý, giảm công suất giường bệnh, giảm chi phí điều trị cho người bệnh. Tăng cường điều trị ngoại trú, nhất là đối với những bệnh mạn tính, giảm ngày điều trị nội trú trên cơ sở bảo đảm chất lượng điều trị, rút ngắn thời gian nằm viện không cần thiết, giảm chi phí cho người bệnh. Cải tạo cơ sở hạ tầng, bố trí thêm giường bệnh tại các khoa phòng thường xuyên quá tải, hạn chế thấp nhất tình trạng nằm ghép. Rà soát công tác xã hội hóa trong khám, chữa bệnh tại các đơn vị nhằm chấn chỉnh kịp thời những sai sót, hạn chế thấp nhất mặt trái của cơ chế thị trường đối với công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tác giả: TS. Nguyễn Quốc Triệu (Uỷ viên Ban Chấp hành TW Đảng, Bí thư Ban cán sự, Bộ trưởng Bộ Y tế)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 145 ngày 11/9/2010

 
In trang Trở lại trang trước Lên đầu trang
BÀI LIÊN QUAN
Tin tức tổng hợp